Tuesday, July 31, 2012

Trần Đăng Khoa: NGƯỜI VIỆT VẪN DUY TRÌ THÓI QUEN "KHÔN NHÀ DẠI CHỢ"

NGƯỜI VIỆT VẪN DUY TRÌ THÓI QUEN KHÔN NHÀ DẠI CHỢ?
Trần Đăng Khoa




Lời dẫn của Lê Thiếu Nhơn: Nhà thơ Trần Đăng Khoa đặt vấn đề: “Còn nhớ những năm 1997-1998, thương lái Trung Quốc sang ta mua mèo với giá cao, thế là vì cái “giá cao” ấy, mèo gần như tuyệt diệt, nông dân phía Bắc phải chịu đại dịch chuột hoành hành, khiến cả mùa màng xiêu điêu. Rồi những năm 2002-2003, thương lái Trung Quốc cũng lại sang mua móng trâu với giá cao. Cũng chẳng biết họ mua móng trâu làm quái quỷ gì mà mua với giá cao thế. Ở thời điểm ấy, cả chú trâu to lớn vật vã như thế mới có 5 triệu bạc mà chỉ riêng một cái móng trâu cũng đã gần một triệu bạc rồi. Thế là bà con lột móng trâu đem bán. Kết cục là trâu bò chết hàng loạt, ảnh hưởng nặng đến sức kéo của bà con nông dân nghèo phía Bắc. Để tiêu diệt cả con trâu, họ chỉ chi khoản tiền bằng đúng một chiếc móng. Thế thì chiếc móng trâu mà thương lái Trung Quốc thu gom là đắt hay rẻ đây?”.

Mấy ngày gần đây, trong những chuyện phiếm bên quán nước vỉa hè, hay trên các hãng truyền thông, đều xôn xao những chuyện không lấy gì làm đẹp trong phòng khám, phòng điều trị tư nhân có thày thuốc Trung Quốc. Điều đáng sợ hơn là đã xảy ra cả chuyện chết người. Nạn nhân là một phụ nữ chẳng có bệnh tật gì nghiêm trọng. Một cái chết vu vơ. Chết chỉ vì bị xốc khi truyền nước. Đó là một sơ xuất rất tối thiểu mà ngay cả một trạm xá cấp xã, cấp phường cũng khó vấp phải.

Chúng ta không nghi ngờ nền y học Trung Quốc, đặc biệt là Đông y. Tuy nhiên, những thầy thuốc giỏi, những bác sĩ chuyên gia đích thực của họ đâu có sang ta để hành nghề. Việt Nam không phải là lựa chọn của họ. Làm việc trong mấy phòng khám tư nhân ở ta, có khi chỉ là mấy ông lang băm bán thuốc dạo, hay vài cậu sinh viên non choẹt vừa mới ra trường. Tay nghề không. Thực tiễn không. Kinh nghiệm không. Thế thì tránh sao được chuyện rủi ro, kể cả những cái chết bi thảm, những cái chết vu vơ rất không đáng có.

Điều chúng ta quan tâm, là tại sao những phòng khám tư nhân, với cái giá điều trị ngất ngưởng ở …trên giời mà vẫn có bao nhiêu người nghèo sẵn sàng dồn cơ nghiệp và cả tính mạng của mình vào đấy, để rồi cuối cùng chuốc lấy sự phiền toái, bùng nhùng, cả những cái chết vô cùng thảm khốc? Tất nhiên, ai rồi cũng sẽ chết vì bệnh. Nhưng những bệnh nhân đáng thương ấy không phải chết vì bệnh tật, mà vì bệnh …sùng ngoại. Cái gì của nước ngoài cũng tốt, cũng sang. Đến cả hàng hóa, vật dụng, hàng xách tay, hàng…ngoài luồng cũng đều …tốt cả. Còn những gì của ta cũng đều rẻ rúng, “hâm đơ”. Hãm. Từ hàng hóa, vật dụng, đến cả …con người. Các Hoa hậu, ca sĩ của ta, chỉ cần có chút nhan sắc, tiếng tăm, phần lớn cũng sắm…chồng ngoại. Thế thì trách gì mấy bác nông dân chân lấm, tay bùn cả tin, dễ bị lừa mị, thế nên chỉ nhức đầu, sổ mũi, hay cắt trĩ, truyền nước…, toàn những bệnh đơn giản, cũng muốn kén bàn tay của bác sĩ ngoại, dù sự kén chọn ấy có phải trả cái giá ngất nghểu ở xứ …cung giăng thì cũng “cứ chơi”. Không đủ tiền thì bán đất cát, nhà cửa. Tính mạng còn chả tiếc thì tiếc gì mấy chuc …triệu bọ. (Xin lưu ý giá cắt trĩ ở phòng khám tư có thầy thuốc Trung Quốc là 20 triệu đồng).

Thật hẩm hiu cho nền y học “nội địa”. Trong khi chúng ta có rất nhiều thày thuốc giỏi, như Giáo sư Tôn Thất Tùng, Giáo sư Tôn Thất Bách, Giáo sư Nguyễn Trọng Nhân, Giáo sư Nguyễn Lân Việt, Lương y Bành Khừu, Bác sĩ Nguyễn Tài Thu, bác sĩ trẻ Nguyễn Lân Hiếu. Bác sĩ Hiếu là con trai Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân Dũng và Thày thuốc Nhân dân, Đại tá hàm Tướng Nguyễn Kim Nữ Hiếu, Phó Viện trưởng Viện 108 Quân đội. Hiện nay, bác sĩ Lân Hiếu mổ tim thuộc hạng cự phách. Một học giả nước ngoài bảo tôi: “Về y học, chúng tôi chỉ hơn các anh máy móc và điều kiện làm việc thôi. Còn tài năng, kinh nghiệm, và đặc biệt là bàn tay khéo léo, chuẩn xác trong kỹ nghệ mổ xẻ, các bác sĩ của các anh thật đáng kính nể!”.

Thế thì tại sao lại dẫn đến thảm cảnh ấy?

Sùng ngoại. Cả tin. Đa nghi ư? “Người Việt vốn dĩ có tinh thần cảnh giác cao độ. Kinh nghiệm từ những năm chiến tranh với cái giá quá đắt phải trả đã cho họ đức tính ấy”. Giáo sư J. Berke, một nhà Việt Nam học người Đức đã từng có nhận xét về chúng ta như vậy. Ông đã bảy lần sang thăm Việt Nam. Để khám phá Việt Nam, theo ông, chỉ cần có một công cụ, đó là chiếc xe đạp. Mà xe đạp ở xứ này rất sẵn. Chỉ bỏ ra hơn chục dolla là đã có cả một chiếc xe đạp rồi. Đi xe đạp Việt Nam rất hay bị xịt lốp. Nhưng không sao. Xe xịt ở bất cứ chỗ nào thì cứ tạt vào rệ đường. Thế là lập tức ở đó sẽ có ngay một ông thợ bơm vá xe đạp. Mà những ông thợ này rất đặc biệt. Họ không phải người bình thường. Họ là những anh hùng trong những năm chiến tranh. Đó là pho sử sống của cả một thời đại. Nhưng tốt nhất là cứ để họ tự nói. Người Việt sởi lởi lắm. Họ chẳng giũ được cái gì ở trong bụng. Nhưng mà đừng hỏi. Nếu cứ thật thà hỏi, hoặc tỏ ý quan tâm, lập lức họ sẽ nghi ngay mình là một tên gián điệp quốc tế. Với người Việt, tội ác tày trời là tội làm gián điệp. Cứ vu cho cái tội làm gián điệp là mọi việc xử lý rất dễ. Dân Việt nhạy cảm lắm. Cảnh giác lắm, căm gián điệp lắm, nên nhìn đâu cũng thấy địch!

Nhận xét của J. Berke như một chuyện đùa. Nhưng không phải không có những điều khiến ta phải nghĩ ngợi. Một cây bút có tiếng chịu khó tìm tòi, vừa có tác phẩm mới, với giọng điệu hơi lạ, dù chỉ đơn thuần là một cách làm mới mình, để mình không giống với người khác. Vậy mà ông bạn tôi cứ truy hỏi: Cái cậu tác giả ấy là người thế nào? Nó ăn phải bả của địch hay do địch cài cắm?. Tôi bảo: Chả có địch nào chui được vào hàng ngũ của những người từng vào sinh ra tử. Mà cơ quan ấy cũng là mảnh đất lành. Một môi trường trong veo làm sao có chỗ cho cái ác nảy nở. Nếu cậu không tin, cậu cứ cử về đấy vài ba thằng gián điệp. Tớ bảo đảm với cậu chỉ sau mấy tháng, chúng sẽ thành lao động “tiên tiến” hay cá nhân “bốn tốt”!.

Ông bạn tôi bắt đầu cảnh giác. Rồi anh nghi ngờ cả tôi. “Không khéo thằng cha này cũng bị địch tiêm nhiễm rồi cũng nên”.

Bà con mình thế đấy. Có thể cảnh giác, nghi ngờ với cả con cái, anh em ruột thịt trong nhà, nhưng lại nhẹ dạ cả tin với thiên hạ. Mà ai nói gì cũng tin. Các cụ bảo đó là bệnh “Khôn nhà dại chợ”.

Còn nhớ những năm 1997-1998, thương lái Trung Quốc sang ta mua mèo với giá cao, thế là vì cái “giá cao” ấy, mèo gần như tuyệt diệt, nông dân phía Bắc phải chịu đại dịch chuột hoành hành, khiến cả mùa màng xiêu điêu. Rồi những năm 2002-2003, thương lái Trung Quốc cũng lại sang mua móng trâu với giá cao. Cũng chẳng biết họ mua móng trâu làm quái quỷ gì mà mua với giá cao thế. Ở thời điểm ấy, cả chú trâu to lớn vật vã như thế mới có 5 triệu bạc mà chỉ riêng một cái móng trâu cũng đã gần một triệu bạc rồi. Thế là bà con lột móng trâu đem bán. Kết cục là trâu bò chết hàng loạt, ảnh hưởng nặng đến sức kéo của bà con nông dân nghèo phía Bắc. Để tiêu diệt cả con trâu, họ chỉ chi khoản tiền bằng đúng một chiếc móng. Thế thì chiếc móng trâu mà thương lái Trung Quốc thu gom là đắt hay rẻ đây?

Chưa hết. Hãy nhớ lại chuyện thu gom ốc bươu vàng, rồi thu gom đỉa của thương lái Trung Quốc mấy năm vừa qua, chúng ta cũng đã phải trả một cái giá đắt đến mức như thế nào? Từ các tỉnh phía Bắc, phong trào thu mua đỉa đã lan đến Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Nhiều người dân Hóc Môn còn đứng ra thu gom đỉa từ khắp các vùng lân cận. Thấy lợi, dễ làm mà giá cao, nhiều hộ dân Tây Ninh còn nuôi đỉa ngay trong ao nhà mình hồ để mang bán cho thương lái Trung Quốc. Ngoài việc “sản xuất” đỉa, “sản xuất” ốc bươu vàng, họ còn đi thu mua của các hộ quanh vùng. Thương lái Trung Quốc mua gì, họ thu gom thứ ấy. Thương lái đặt với số lượng cực lớn rồi đột ngột “mất tích” như phép thần thông của Tôn Hành Giả. Mà đỉa với ốc bươu vàng sinh sản rất nhanh. Trời mưa, đỉa theo nước ùa cả vào nhà dân. Không phải chỉ trẻ con mà người lớn cũng sợ khiếp vía. Theo các nhà Động vật học, “đỉa là loài rất nguy hiểm, do dễ sinh sôi nảy nở trong mọi điều kiện. Đặc biệt, ở những vùng đồng ruộng chiêm trũng. Trong khi đó, để tiêu diệt một con đỉa lại rất khó khăn, ngay cả việc đốt cháy, nếu không cháy hết còn sót lại một vài tế bào, gặp điều kiện thuận lợi cũng có thể phát triển thành một con đỉa bình thường. Đặc biệt, khi người dân đua nhau nuôi đỉa thì không thể kiểm soát được, đỉa tràn ra môi trường, trở thành hiểm họa, giống như hiểm họa ốc bươu vàng, chuột hải ly, rùa tai đỏ những năm trước đây”.

Thật quái quỷ!

Và rồi còn ghê rợn hơn nữa là việc thu gom chè bẩn cũng lại của Thương lái Trung Quốc trong khu vực các tỉnh phía Bắc. Chỉ tính riêng ở Văn Chấn, Yên Bái, có thể nói, người người sản xuất chè. Nhà nhà sản xuất chè. Mỗi hộ gia đình chỉ bỏ ra 4 triệu đồng mua 2 máy vò chè và sàng chè, là đã thành một xưởng sản xuất chè tại gia. Chỉ sau 1 tuần sản xuất chè bẩn, họ đã thu hồi toàn bộ vốn. Còn sau thì lãi. Ở Hàm Yên, Tuyên Quang, còn có chuyện sản xuất chè bằng cách trộn phân lân hoặc nước bùn đất vào búp chè tươi già, qua công đoạn vò, phơi, được loại chè khô vừa nặng, vừa dẻo, cánh chè xoăn và xanh. Có một điều rất lạ, chè bẩn làm ra bao nhiêu cũng được thương lái Trung Quốc thu gom hết. Họ còn mua với giá cao. Thương lái Trung Quốc còn đến tận nhà hướng dẫn làm chè bẩn rồi bao tiêu trọn gói. Chè bẩn được đóng bao, đóng gói chở đi kìn kìn. Họ mua chè bẩn với số lượng lớn như thế về để làm gì thì chỉ có trời mới biết.

Khi Trung Quốc đăng cai Đại hội Olympic, trước con mắt của bạn bè quốc tế, họ mời ông Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang sang cùng chứng kiến cảnh họ đốt chè, với lý do chè Việt bẩn không đảm bảo an toàn thực phẩm. Vậy thì còn có quốc gia nào giám ký kết, đặt mua. Vậy là chỉ sau 6 tháng, toàn bộ ngành chè liêu xiêu và hàng loạt doanh nghiệp gắn với chè đã bị phá sản.

Năm 2007, Tập đoàn Bưu chính viễn thông của chúng ta cũng thiệt hại hàng chục triệu USD khi bị cắt trộm 11 km cáp quang. Nhiều người cứ thắc mắc, không hiểu kẻ cắp cắt trộm cáp quang để làm gì, bởi cái thứ này không thể bán phế liệu được. Sau đó, khi Công an Bà Rịa - Vũng Tàu bắt được "cáp tặc" Nguyễn Thị Bích Phượng, từ lời khai của thị, mọi người mới tá hỏa: Hóa ra thị tổ chức cắt cáp để bán cho thương lái Trung Quốc. Thị cũng không hiểu thương lái Trung Quốc mua hàng đống cáp quang vụn của thị để làm cái quái quỷ gì?

Cũng may, thương lái Trung Quốc chỉ gom thu chè bản, cáp quang, đỉa ốc, móng trâu...Họ mà thu gom hài cốt thì không khéo khối người đào cả mồ mả, ông bà tổ tiên đem bán rồi.

Thật đáng sợ.

Bây giờ thì tất cả đã rõ.

Bà con ta quá nêu cao cảnh giác, toàn cảnh giác nghi ngờ những người ruột thịt trong nhà, rồi ứng xử rất hà khắc, nhưng lại ngờ nghệch, cả tin với người ngoài thiên hạ, cũng vì những lợi ích cỏn con trước mắt, nên bị mấy anh nghịch tặc phá hoại nó lừa. Và lừa rất manh mún, tiểu nhân, nhưng lại rất bài bản, có hệ thống với mọi tính toán kỹ lướng, và rồi hậu quả để lại cho chúng ta thì lại vô cùng nặng nề và không hề manh mún một chút nào.

Ôi! Người anh em Trung Quốc, “môi hở răng lạnh”, người luôn nêu cao “mười sáu chữ vàng” mà lại hiện hình rúm ró như thế được sao? Tôi nói điều này cũng vì rất yêu đất nước anh em Trung Quốc. Đất nước của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tào Tuyết Cần, Lỗ Tấn… cùng với nền văn hóa vĩ đại mà tôi hằng ngưỡng mộ từ thuở ấu thơ! Chính vì yêu Đất nước Trung Quốc, nên càng thấy đau đớn, khi những kẻ giả danh Trung Quốc, đã bôi bẩn đất nước đất nước anh em vĩ đại mà chứng ta hằng biết ơn này, nhất là mấy anh Hải tặc đã bịa ra cái đường lưỡi bò, cướp Hoàng Sa, rồi còn hòng thôn tính luôn Trường Sa và cả Biển Đông ngút ngát kia. Trung Quốc là một quốc gia giầu có, hùng mạnh. Sự bật dậy của người anh em thân thiết trong những năm gần đây làm chúng ta mừng vui và hạnh phúc vô cùng. Thế kỷ 21 mà chúng ta đang sống đây sẽ là thế kỷ Trung Quốc.

Hàng hóa Trung Quốc, từ đồ tiêu dùng vụn vặt cho đến những mặt hàng cao cấp nhất cũng đã phủ khắp thế giới. Chẳng cần đến Trường Sa, Hoàng Sa và cả Biển Đông, Trung Quốc cũng vẫn là một quốc gia hùng mạnh vào bậc nhất thế giới, vậy thì việc gì phải vơ váo những thứ không phải của mình. Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Đó không phải người Việt tự tuyên bố, mà chủ quyền đó đã được chính người Pháp và bạn bè Quốc tế khách quan, xác định từ mấy trăm năm trước. Trong bản đồ địa giới, hải giới của Trung Quốc, từ đời Nhà Thanh và trước nữa cho đến năm 1904 cũng không có Hoàng Sa, Trường Sa và cái đường lưỡi bò ma quỷ. Đấy là những bằng cứ hùng hồn, phủ nhận những trò tháu cáy của những kẻ tiểu nhân, rất không hảo hán. Việc làm đó chẳng biết có thu được lợi lộc gì không, vì trong thời đại ngày nay, cũng không dễ làm được những điều khuất tất ngang ngược, bất chấp đạo lý, nhưng trước mắt, họ đã tự cô lặp mình trước cộng đồng quốc tế, đặc biệt là với các nước trong khu vực, cùng thở chung một bầu khí quyển Biển Đông. Và nói như các cụ ta xưa, thì đó cũng chỉ là chuyện : “Khôn nhà dại chợ!”


Nguồn: Lê Thiếu Nhơn.

Sunday, July 29, 2012

Huyện đảo Lý Sơn: Thiên đường giữa biển khơi


Lý Sơn giống như một ốc đảo thần tiên giấu mình trong vẻ đẹp hoang sơ giữa bao la đất trời. Hòn đảo được mệnh danh là “thiên đường giữa biển khơi”, một báu vật tự nhiên của Quảng Ngãi.
Đến với hòn đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, bạn sẽ thưởng thức được vẻ đẹp của thiên đường tại đây. Biển xanh, cát trắng, nắng vàng hứa hẹn một kỳ nghỉ khó quên.
Bình minh
Bình minh
Huyện đảo Lý Sơn vỏn vẹn 10 km2 với dân số chừng 2 vạn người, chia thành hai xã An Vĩnh và An Hải. Dân cư sống trên đảo chủ yếu bằng nghề nông, đánh bắt hải sản. Nông sản chính ở đây là tỏi. Tuy diện tích khá nhỏ nhưng nơi đây có đến gần 100 di tích với một quần thể các đền, chùa, miếu mạo, những ngôi mộ gió của các chiến binh Hoàng Sa một thời giong buồm ra khơi giữ gìn chủ quyền biển đảo cho quốc gia. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, song có lẽ nhờ ở xa đất liền, ít bị ảnh hưởng bởi chiến tranh cũng như việc tu bổ, tôn tạo di tích theo kiểu “tân trang”  nên hầu hết các di tích của Lý Sơn còn nguyên vẹn, ít bị xâm hại. Đáng đến thăm nhất là chùa Hang, chùa Đục, đình làng Lý Hải, quần thể di tích Âm Linh Tự, nghĩa trang bộ đội Hoàng Sa…
Huyện đảo Lý Sơn vỏn vẹn 10 km2 với dân số chừng 2 vạn người
Huyện đảo Lý Sơn vỏn vẹn 10 km2 với dân số chừng 2 vạn người
Đảo Bé
Đảo Bé
Điều dễ làm say lòng bất cứ ai đến Lý Sơn là màu trời, màu nước ở đây. Nước biển xanh biếc, ánh nắng vàng chảy trên từng ngọn cây, đọt cỏ trong như thủy tinh, bầu trời trong veo đẹp đến ngỡ ngàng. Và gió như bay từ muôn phía ùa đến ngập hồn du khách. Biển xanh ngắt, trời xanh ngắt còn nắng ở nơi đây cũng chói chang hanh hao và gắt. Lý Sơn đã có nhà máy điện từ năm 1997, nhưng đến nay vẫn chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu. Nguồn điện thiếu thốn, cuộc sống của người dân huyện đảo Lý Sơn còn cơ cực, các sinh hoạt đều lệ thuộc vào máy phát điện mini chạy bằng diesel. Năng lượng điện nơi đây không có nhiều nên phải dùng hạn chế. Buổi trưa, để trốn cái nắng nóng oi nồng, chúng tôi ra phía biển, tìm những bóng mát của dừa, bàng biển để mắc võng ngủ. Nghe sóng vỗ ì ầm, tiếng gió biển vi vu cành lá, giấc trưa mơ màng tìm đến. Bao mệt mỏi tan biến chỉ còn lại giây phút thanh bình.
Cảng Mù Cu
Cảng Mù Cu
Tuyệt sắc núi Hòn Tai và lòng chảo miệng núi lửa.
Tuyệt sắc núi Hòn Tai và lòng chảo miệng núi lửa.
Đảo Đá Bé
Đảo Đá Bé
Những vạt sóng biển tuyệt đẹp.
Những vạt sóng biển tuyệt đẹp.
Chùa Hang
Chùa Hang
Thuyền thúng
Thuyền thúng
Đảo Lý Sơn nhìn từ ngoài khơi.
Đảo Lý Sơn nhìn từ ngoài khơi.
Hoàng hôn trên đảo Lý Sơn.
Hoàng hôn trên đảo Lý Sơn.
PV tổng hợp

Xuân về trên hồ thủy điện Sơn La

Hồ thủy điện Sơn La nằm trên địa bàn 3 tỉnh Tây Bắc là Sơn La, Điện Biên và Lai Châu với diện tích khoảng 43.760 Km2. Sau gần 2 năm hình thành, hồ đã đem lại nhiều sự thay đổi lớn lao từ diện mạo thiên nhiên đến cuộc sống con người nơi đây.


Một góc hồ thủy điện giáp quốc lộ 279, đoạn qua xã Chiềng Ơn, huyện Quỳnh Nhai



Nhìn từ trên cao xuống, thấp thoáng 2 người dân tộc đang đi trên nhưng thửa ruộng



Hai người đàn ông đang đổ tôm vào túi lưới sau khoảng 1 ngày đặt giọ (Bản Cây Đa – bản tái định cư của nhân dân xã Chiềng Bằng – Quỳnh Nhai trên địa phận xã Chiềng Ơn).



Trước khi chuyển về bản tái định cư ven hồ, anh Là Văn Sáng (dân tộc Thái) chủ yếu là làm nương rẫy, trồng ngô, sắn. Bây giờ anh còn có thêm nghề đánh bắt tôm.



Tôm sau khi đánh về sẽ có thuyền đến mua tại hồ. Theo anh Sáng thì ngày thường anh đánh được khoảng 5 – 7 kg, bán với giá 40.000 – 50.000 đồng/1kg. Còn vào mùa lũ có thể đánh được 30kg. Anh phấn khởi tiết lộ: “Thu nhập trung bình 1 ngày từ 2 đến 3 trăm ngàn đồng”.



Sau Tết là thời điểm bà con ven hồ đốt nương chuẩn bị cho vụ ngô mới.



Cây sắn là cây trồng chủ yếu ở đây.



Những cây cà dại ven hồ nở đầy hoa.



Những đứa trẻ vô cùng thích thú khi được chụp ảnh.



Một người phụ nữ dân tộc Thái vui mừng khi mua được chăn ấm cho con.



Dãy núi chạy dọc hồ, nhìn từ cầu Pá Uôn (Quỳnh Nhai) – cây cầu có trụ cao nhất



Lê Hồng Thái

Ngắm bồng lai tiên cảnh ở Sơn La


Cảnh tượng khiến lòng người khó hững hờ. Nằm giữa biển mây, những ngọn núi trở thành những hòn đảo. Những cảnh này tưởng chỉ có ở chốn bồng lai. >Xuân về trên hồ thủy điện Sơn La

Độc giả Phùng Việt Hoàng gửi về VnExpress chùm ảnh này và cho biết: " Đây là những bức ảnh do em gái tôi đang dạy học ở trường tiểu học Suối Tọ, Huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La chụp".















Phùng Việt Hoàng

Cảnh đẹp lay động lòng người ở Cao Bằng


Mang những nét hoang sơ, thiên nhiên Cao Bằng đẹp một cách sững sờ. Những dòng sông lững lờ xanh biếc, hay những con đèo ngoằn ngoèo vắt qua những ngọn núi tạo nên một khung cảnh non nước thơ mộng, trữ hình.
>Ngắm bồng lai tiên cảnh ở Sơn La


Đường về Đông Khê



Đèo Mã Phục



Đường vào biên giới



Hồ Thang Hen



Sông Gâm, đoạn qua Bảo Lạc, Cao Bằng



Sông Quây Sơn



Chu Đức Hòa

Lộng lẫy cao nguyên Di Linh - Lâm Đồng




Nếu những ai chưa đến công trường dự án thủy điện Đồng Nai 2, chắc hẳn họ đều có chung một suy nghĩ rằng đây là nơi đầy ầm ĩ tiếng ồn, nắng, gió, bụi… Nhưng với những con người đang ngày ngày làm việc tại dự án thì nơi đây luôn có những khoảnh khắc tuyệt đẹp đọng lại trong lòng cảm giác khó tả.
>Cảnh đẹp lay động lòng người ở Cao Bằng

Giữa muôn trùng mây bềnh bồng lơ đãng sẽ làm bạn ngẩn ngơ trước sự khác biệt giao thoa của mây trời, sương gió và núi rừng. Núi ấp ôm mây, mây ấp núi, cây lá đắm chìm trong tấm chăn của làn sương bao phủ lên đất trời bình yên.

Xa xa những ngôi nhà tranh nhỏ bé thấp thoáng trong làng sương sớm với những đám mây trắng tạo nên khung cảnh như chốn thiên đường. Chút thi vị đã níu kéo lòng tác giả, đưa bạn đến với những góc nhìn đa chiều, tuyệt đẹp tại dự án thủy điện Đồng Nai 2. Hãy thử đến một lần và hãy thức dậy thật sớm để cảm nhận sự lãng mạn của mây trời gió núi bạn nhé.


Cỏ và trời xanh cao nguyên



Mây hình nấm khổng lồ



Hoàng hôn dần buông xuống cao nguyên



Cảnh tượng như bức tranh thủy mặc



Đám mây ngũ sắc



Bình minh rực rỡ cao nguyên




Cầu vồng



Cỏ lau trắng



Nguyễn Đào Tuấn

Rực rỡ mai anh đào xứ Đà Lạt mộng mơ

Vào mỗi độ xuân về, lại có dịp lang thang trên những con đường, góc phố Đà Lạt ngắm nhìn sắc hồng rực rỡ của một loài hoa đặc trưng của xử sở cao nguyên, đó là hoa mai anh đào. Quanh năm đứng chịu sương gió, loài hoa này chỉ sống nhờ chất đất, khí trời.
>Hoàng hôn rực rỡ trên công trường thủy điện / Lộng lẫy cao nguyên Di Linh - Lâm Đồng

Nói đến Lâm Đồng ai cũng nghĩ đến thành phố Đà Lạt mộng mơ với hồ Xuân Hương, thung lũng tình yêu lãng mạn, rừng thông vi vu, những buổi sáng sương mờ giăng giăng đỉnh núi và muôn ngàn hoa đua sắc.

Nhiều tháng liền, mai anh đào hầu như trơ trụi lá tưởng như không còn sức sống, thế nhưng cứ vào thời điểm lạnh nhất của năm muôn vạn nụ hồng xuất hiện và chỉ chờ lúc tiết trời ấm áp của mùa xuân là nở hàng ngàn chùm hoa sum suê với màu hồng tươi thắm, đẹp đến lạ lùng.

Những cây hoa mai anh đào được trồng ở đây từ rất lâu, có những cây thân to tuổi đời gần 100 trăm xù xì, rêu mốc. Khắp con đường quanh bờ Hồ Xuân Hương, dọc những con đường, con hẻm ngập tràn sắc hồng tươi tắn của hoa mai anh đào báo hiệu mùa xuân đã về.

Giữa khí hậu trong lành, mát mẻ, sương mù lãng đãng, loài hoa mai anh đào thật sư góp phần làm nên sự lãng mạn có một không hai cho thành phố Đà Lạt ngàn hoa.





















Rực rỡ mai anh đào xứ Đà Lạt mộng mơ



















Nguyễn Đào Tuấn